Chỉ có cách xây dựng thương hiệu!

Email In PDF.
Muốn thoát khỏi con đường cạnh tranh về giá, chỉ có cách xây dựng thương hiệu, vốn là kết quả của rất nhiều đối tượng sở hữu trí tuệ: quyền tác giả, sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa...

Một chuyên gia kinh tế của Tổ chức  Xúc tiến nhập khẩu Hà Lan (CBI từng phát biểu: “Trong tư duy của phần lớn doanh nghiệp Việt Nam, cách duy nhất để cạnh tranh là hạ giá, thậm chí khi chất lượng được nâng lên cũng cần phải hạ giá mới cạnh tranh được. Không ai nghĩ rằng mình có thể nâng giá để cạnh tranh”.

Cần nhanh chóng tăng số lượng đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ cho các doanh nghiệp. Từ đó, Nhà nước và doanh nghiệp sẽ cùng coi Luật sở hữu trí tuệ là luật “của mình”.

Trong điều kiện kinh tế hội nhập, với Việt Nam, đi vào con đường  cạnh tranh về giá dễ dẫn đến các vụ kiện bán phá giá. Các vụ kiện cá ba sa, tôm, bật lửa, xe đạp, rồi da giày cho thấy khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các vụ kiện bán phá giá chỉ có tăng chứ không giảm. Thứ hai, về giá cả, Việt Nam vẫn chưa cạnh tranh được với Trung Quốc, do yếu hơn về quy mô sản xuất và công nghiệp phụ trợ. Thứ ba, cạnh tranh về giá sẽ biến Việt Nam thành “thuộc địa” gia công hơn là một cường quốc kinh tế. Bài học của Mexico (mặc dù đầu tư nước ngoài nhiều song GDP hàng năm chỉ tăng 1% kể từ khi gia nhập  WTO) cho thấy điều này. Con đường phát triển lâu dài của Việt Nam không thể là con đường cạnh tranh về giá.

Muốn thoát khỏi con đường cạnh tranh về giá, chỉ có cách xây dựng thương hiệu, vốn là kết quả của rất nhiều đối tượng sở hữu trí tuệ: quyền tác giả, sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, bí mật kinh doanh, quyền chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Sau đó, thương hiệu phải được Nhà nước bảo hộ bằng các cơ chế thực thi một cách hữu hiệu. Đây chính là điểm yếu nhất trong luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam.

Thứ nhất, hình phạt quá nhẹ. Mức phạt do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ không cao quá 100 triệu đồng. Hàng hóa xâm phạm chỉ bị tịch thu, tiêu hủy khi không còn giá trị sử dụng hay gây thiệt hại cho sức khỏe.

Thứ hai, thủ tục bảo vệ quá khó khăn, lâu dài và tốn kém. Chủ sở hữu phải nộp một khoản tiền đảm bảo tạm thời trước khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn hàng bị nghi xâm phạm thông quan hay yêu cầu tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Thứ ba, Nhà nước quá bao cấp trong việc thực  thi. Không doanh nghiệp tư nhân nào được cấp phép kinh doanh dịch vụ điều tra vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Như vậy, thay vì cung cấp các công cụ hữu hiệu để doanh nghiệp tự bảo vệ quyền lợi của mình, Nhà nước chỉ cung cấp cho doanh nghiệp một con đường là khiếu nại và chờ giải quyết. Hiển nhiên, cơ quan nhà nước sẽ là nơi gánh chịu than phiền khi việc thực thi không hiệu quả.

Cuối cùng doanh nghiệp và Nhà nước trở nên đối kháng nhau thay vì hỗ trợ lẫn nhau. Tháo gỡ những  vấn đề đó không khó, chúng ta chỉ cần thực hiện tốt những cam kết trong Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ thay Thỏa ước TRIPS về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, lệnh khám xét và nghĩa vụ chứng minh của bị đơn trong tố tụng về sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, những quy định như vậy vẫn còn vắng bóng trong dự thảo mới nhất về Luật Sở hữu trí tuệ. Vì sao vậy? Theo Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa, nguyên nhân có thể là do người Việt Nam không có truyền thống bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. (Chuyên khảo Luật Kinh doanh, tr. 184-195). Việc áp dụng tuêu chuẩn nước ngoài lên pháp luật trong nước bị coi như một sự ép buộc, một điều kiện để hội nhập hơn là xuất phát từ những nhu cầu nội  tại. Dân ta còn nghèo, sao lại phải bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của doanh nghiệp nước ngòai? Lấy đâu ra kinh phí để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nước ngoài? Vậy nên, đã 16 năm kể từ khi Pháp lệnh Sở hữu công nghiệp (1989) ra đời, cho đến giờ các cơ quan thực thi vẫn ngập ngừng khi thực thi, cho rằng đây là loại luật “quá mới, quá khó” (?).

Để giải quyết những vướng mắc trong tâm tư trên, cách tốt nhất là phải nhanh chóng tăng số lượng đối tượng sở hữu  trí tuệ được bảo hộ cho các doanh nghiệp Việt Nam. Từ đó, Nhà nước và doanh nghiệp sẽ cùng coi Luật Sở hữu trí tuệ là luật “của mình”.

Khác Việt Nam, Nhật xây dựng luật sở hữu trí tuệ vì doanh nhân Nhật chứ, không phải vì cam kết quốc tế. Nhật có Luật Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ năm 1880, kkhi chưa có công ước quốc tế nào về sở hữu trí tuệ. Theo thống kê Cục Patent Nhật, trong suốt lịch sử từ năm 1885 đến nay, từ khi còn là một nước kém phát triển cho đến khi trở thành cường quốc kinh tế thứ hai toàn cầu, số văn bằng cấp cho các sáng chế của Nhật luôn chiếm ít nhất 80% tổng số văn bằng bảo hộ được cấp. Góp phần cho thành công, bên cạnh luật sở hữu trí tuệ, còn có sự hỗ trợ của Viện Phát minh sáng chế Nhật (JIII), thành lập năm 1904, với chi nhánh ở khắp các tỉnh, thành, khuyến khích nhà nhà, người người nộp đơn bảo hộ sáng chế. Theo nghiên cứu  của Giáo sư Yoshihito Tanaka, từ năm 1904 đến năm 1980, trong khi số lượng đơn sáng chế của Mỹ chỉ tăng 2,8 lần, thì của Nhật đã tăng 100 lần. Bài học của Nhật cho thấy nội lực của doanh nhân và sự hỗ trợ của cơ quan nhà nước sẽ là những nhân tố quyết định để trả lời câu hỏi: Luật Sở hữu trí tuệ được làm ra để bảo hộ cho ai?

TS. Lê Nết – Đại học Luật TPHCM (Thời báo kinh tế SG)

 

Xuất sắc trong tháng

buivantin.jpgnguyenthixuantrang.jpg

Khách hàng tiêu biểu

Demo Demo Demo Demo Demo