Mặc dù nhận thức về tầm quan trọng của bảo hộ đăng ký nhãn hiệu trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam có tăng trong năm 2007, nhưng theo Cục Sở hữu trí tuệ, điều đó là chưa đủ.

Năm 1990, Công ty máy tính IDC được thành lập, nhưng IDC lại … "quên" đăng ký nhãn hiệu. Không lâu sau đó, một hãng nước ngoài cũng tên là IDC vào Việt Nam và đăng ký với Cục Sở hữu trí tuệ (SHTT) bảo hộ nhãn hiệu IDC và Cục này đã cấp văn bằng bảo hộ cho IDC nước ngoài. IDC này được cấp xong thì quay ra kiện IDC Việt Nam, yêu cầu ngừng sử dụng nhãn hiệu IDC tại Việt Nam.

Trước tình thế đó, IDC Việt Nam đã nộp đơn phản đối, đề nghị xem lại việc cấp bảo hộ IDC cho chủ thế nước ngoài. Lập luận của IDC Việt Nam là tại thị trường trong nước họ là người có trước, đã được tiêu dùng biết đến và chấp nhận. Đáp lại, chủ thể IDC nước ngoài cũng dẫn chứng rằng họ đã sử dụng nhãn hiệu IDC ở nước ngoài rồi. Cuối cùng, trong trường hợp này thì ưu tiên là thị trường Việt Nam, người tiêu dùng Việt Nam và Cục SHTT đã hủy nhãn hiệu của chủ thể nước ngoài và cấp cho chủ thể IDC Việt Nam.
Một vụ rắc rối tương tự khác trên lĩnh vực bia, liên quan đến nhãn hiệu Budweiser, nhưng là ở nước ngoài. Ở Tiệp Khắc (cũ) có địa danh gọi là vùng Budweiser. Một người từ vùng này đã chuyển sang Mỹ nhập cư và thành lập Công ty bia Budweiser, trong khi đó ở Tiệp cũng xuất hiện một Công ty bia Budweiser. Hai công ty này phát triển song song nhưng công ty Budweiser ở Tiệp phát triển chậm hơn.
Budweser là tên tiếng Đức, vì vậy Chính phủ Tiệp Khắc lúc đó quyết định đổi tên Budweiser sang tên khác nhưng vẫn dùng nhãn hiệu Budweiser. Đến những năm 89-90 của thế kỷ trước, hai bên hoãn việc tranh chấp, và phía Budweiser bên Mỹ đề nghị mua lại Budweiser Tiệp. Nhưng khi cơn khủng hoảng qua đi người Tiệp nhận thấy đây là tài sản rất lớn nên không bán nữa, và cuộc tranh chấp lại diễn ra. Hai bên đều có gốc gác của mình. Do vậy, cho đến nay hai công ty này vẫn phát triển song song chưa có hồi phân giải.
Một ví dụ nữa, vụ tranh chấp nhãn hiệu Tosimin 15 năm tại Việt Nam của một chủ thể nước ngoài. Một hãng thuốc của Việt Nam cũng đăng ký nhãn hiệu Tosimin. Theo quy định đơn đăng ký trong vòng một năm kể từ khi được chấp thuận bảo hộ thì phải đi vào hoạt động nhưng hãng thuốc nước ngoài đã không hoạt động. Vì vậy, khi chủ nước ngoài phản đối, yêu cầu hủy bỏ đơn đăng ký của chủ thể Việt Nam phía chủ thể Việt Nam đã kịp thời tìm ra các bằng chứng chứng minh chủ nước ngoài không hoạt động tại Việt Nam với nhãn hiệu này kể từ khi được cấp. Vì vậy, Cục đã hủy bỏ nhãn hiệu của nước ngoài và chấp nhận đơn của chủ Việt Nam.

Nhận thức tăng, nhưng chưa đủ
Những câu chuyện thực tế kiểu như trên đã và đang diễn ra cả ở thị trường trong và ngoài nước, gióng tiếp những lời cảnh báo với các doanh nghiệp (DN) về tầm quan trọng của đăng ký bảo hộ nhãn hiệu. Theo Cục SHTT, vẫn còn khá nhiều DN Việt Nam chưa nhận thức hết tầm quan trọng này. "Các DN Việt Nam thường mải mê bán sản phẩm mà không lo đăng ký bảo hộ nhãn hiệu sản phẩm đó, đến khi xảy ra tranh chấp mới lo đi đăng ký", ông Hùng cho biết.
Theo ông Trần Việt Hùng, Cục trưởng Cục SHTT trong năm 2007, Cục này đã tiếp nhận khoảng 27.000 đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, tăng 20% so với năm 2006. Điểm tích cực là các DN Việt Nam đang nhận thức tốt hơn về đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, với khoảng 70% lượng đơn đăng ký bảo hộ nhãn hiệu năm 2007 là của chủ thể Việt Nam, còn lại là của người nước ngoài. "Đây là bước tiến lớn trong công tác bảo hộ SHTT tại Việt Nam, cho thấy nhận thức về bảo hộ SHTT của các DN Việt Nam tốt hơn những năm trước, nhưng điều đó chưa đủ", ông Hùng nói.
Đi cùng với đó, vẫn theo Cục SHTT, là công tác giải quyết khiếu nại trong năm 2007 cũng tăng đáng kể. Năm 2007, Cục SHTT đã tiếp nhận khiếu nại gần 400 vụ, trong đó đề nghị đình chỉ, hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ khoảng 105 đơn. Theo ông Nguyễn Thanh Hồng, Trưởng phòng thực thi và khiếu nại (Cục SHTT), điểm đặc trưng trong năm 2007 là đã áp dụng mức phạt về hành vi vi phạm SHTT ở mức 100 triệu đồng không còn hiếm nữa.
Cách tốt nhất là các DN nên ý thức được việc bảo vệ chính các nhãn hiệu sản phẩm hay DN của mình, tránh xảy ra tranh chấp. Theo ông Hùng về nguyên tắc bảo hộ nhãn hiệu, nhãn hiệu chỉ có hiệu lực trong phạm vi mà chủ sở hữu đăng ký, nếu ngoài vũng lãnh thổ đó thì không có giá trị. "Nếu như DN Việt Nam chưa đăng ký ở nước ngoài mà sang đó làm ăn mà bị đăng ký mất thì cũng không thể bảo hộ được", ông cảnh báo.
Ngược lại, trong luật SHTT có điều khoản về cạnh tranh không lành mạnh, nguyên tắc "nộp trước thì được" chỉ là tương đối. Chẳng hạn như trường hợp một hãng nước ngoài đăng ký loại thuốc chữa bệnh Gliacinin. Hãng này đã đăng ký với Cục Dược phẩm (Bộ Y tế) và được cấp phép nhập khẩu từ nhiều năm nay, nhưng hãng này lại không đăng ký với Cục SHTT. Hai năm trước, một công ty của Việt Nam đã lấy và đăng ký nhãn hiệu tương tự. Sau khi đăng ký chủ thể Việt Nam đã kiện chủ thể nước ngoài vì thực tế là hãng dược Việt Nam đã biết nhãn hiệu này vào Việt Nam rồi nhưng vẫn tiến hành đăng ký nhãn hiệu tương tự. Sau khi xem xét các chứng cứ cụ thể Cục SHTT đã hủy bỏ bảo hộ đối với chủ thể Việt Nam.

Nguồn: DN & TH





Bài viết khác: